Biển Đông dậy sóng 東海起風波

位於台灣和中國南方、越南東方、菲律賓西方、東馬來西亞北方的這片海域,華文世界稱之為「南海」,越南稱之為「東海」,菲律賓則在最近改稱之為「西菲律賓海」。自古以來,這片海域即是國際航線要道,近數十年來,周邊國家皆宣稱擁有此海域之主權。

南海?東海?西菲律賓海?海面上星羅棋布的島嶼,海底下豐富的石油和天然氣,究竟歸誰?

Hơn ba thập kỷ qua, trong bối cảnh quan hệ Việt-Trung có những bước thăng trầm, Việt Nam vẫn luôn khẳng định Hoàng Sa cùng với Trường Sa là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của mình. Bởi vì chủ quyền ấy đã được minh chứng bằng thời gian và lịch sử của nhiều thế kỷ những cư dân và Nhà nước Việt Nam đã quản lý và khai thác vùng lãnh thổ trên biển Đông này. Trước những leo thang và tham vọng của Trung Quốc gần đây, một câu hỏi được đặt ra là Việt Nam sẽ phải làm gì trong bối cảnh này để bảo vệ toàn vẹn chủ quyền và lãnh thổ quốc gia thiêng liêng?

Biển Đông dậy sóng

東海起風波

Ngày 26/5/2011, 3 tàu hải giám của Trung Quốc đã vào sâu trong thềm lục địa của Việt Nam để uy hiếp và cắt cáp của tàu thăm dò địa chấn Bình Minh 2 của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN). Không dừng lại ở đó: ngày 9/6/2011, tàu Viking 2 của PVN khi đang khảo sát địa chấn trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, đã bị hai tàu đánh cá và ngư chính của Trung Quốc đến quấy rối và phá thiết bị. Những sự kiện này được giới quan sát quốc tế đánh giá là một sự leo thang có chủ ý không thể chối cãi.

Thực chất, hai sự kiện nói trên là những cột mốc quan trọng vì nhiều lý do. Thứ nhất, nó diễn ra thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, cách mũi Đại Lãnh (Khánh Hòa) chỉ 120 hải lý, chứ không thuộc vùng biển có tranh chấp như trong những lần va chạm trước. Thứ hai, nó nhắm đến hoạt động thăm dò và khai thác dầu khí, một trong những hoạt động kinh tế trên biển quan trọng nhất của Việt Nam. Thứ ba, nó diễn ra có chủ ý, có hệ thống (3 tàu hỗ trợ nhau) chứ không phải một tai nạn. Hơn nữa, sự kiện này nguy hiểm ở chỗ: toàn bộ cỗ máy truyền thông của Trung Quốc đã lên tiếng khắp nơi vu cáo Việt Nam là bên gây hấn và Trung Quốc đóng vai nạn nhân trước nhân dân Trung Quốc cũng như thế giới.

Trước sự kiện này, Việt Nam như bừng tỉnh. Chỉ một ngày sau khi xảy ra “sự kiện Bình Minh", đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc để trao công hàm yêu cầu Trung Quốc chấm dứt những hành động vi phạm chủ quyền đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Cộng hưởng với những động thái trên của Chính phủ và truyền thông, người dân, nhất là giới trẻ, ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đã tuần hành ôn hòa trước Đại sứ quán và Lãnh sự quán Trung Quốc để bày tỏ sự phản đối vào ngày 5/6/2011 và sau đó là ngày 12/6/2011; 19/6/2001 để phản đối sự leo thang của Trung Quốc.

Chứng cứ lịch sử

歷史證據

Bằng chứng lịch sử về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được ghi lại trên nhiều thư tịch, trong đó có nhiều văn bản mang tính chất Nhà nước của Việt Nam. Cho đến nay, chúng ta vẫn có bằng chứng đầy đủ về chủ quyền của nhà nước Đại Việt qua Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ (Đỗ Bá Công biên soạn năm 1686), hay Phủ Biên Tạp Lục (do nhà bác học Lê Quý Đôn soạn năm 1776)… Trong Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ, Hoàng Sa được vẽ theo bút pháp đương đại với chú thích rất rõ ràng: “Giữa biển có một dải cát dài gọi là Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) dài tới 400 dặm… Họ Nguyễn mỗi năm và cuối mùa Đông đưa 18 chiếc thuyền đến đấy lấy hàng hoá, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn…”. Còn trong Toản Tập An Nam Lộ thì ghi chú rất rõ địa danh Bãi Cát Vàng trên biển khơi phía trước của những địa danh trên đất liền như các cửa biển Mỹ Á, Sa Kỳ, Đại Chiêm. Sự xác lập chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa cũng được các tác giả nước ngoài ghi chép lại như Hải ngoại ký sự (Thích Đại Sán viết năm 1696), hay của nhiều tác giả phương Tây như Le Poivre (1749), Taberd (1833), Gutzlaff (1849)…

“Lưỡi bò” và tham vọng bá quyền

中國的「牛舌地圖」和霸權野心

Nằm ở vị trí đặc biệt trong vành đai châu Á-Thái Bình Dương, biển Đông (hay Nam Hải -theo cách gọi của người Trung Quốc) là một trong những khu vực có vị trí địa lí-chính trị quan trọng nhất trên thế giới. Theo một đánh giá mới đây của Bộ Năng lượng Mỹ, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở biển Đông là 70 tỉ thùng với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày. Trong khi phía Trung Quốc tin rằng, trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỷ thùng, riêng tại quần đảo Trường Sa lượng dầu có thể lên tới 105 tỷ thùng.

Ngày 13/5/2009, lần đầu tiên, Trung Quốc chính thức đưa bản đồ có hình lưỡi bò lên Liên hiệp quốc, theo đó, tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc chiếm tới 80% diện tích Biển Đông. Hành động này được các nước xem là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, vi phạm Công ước Luật biển năm 1982 của LHQ. Nhưng đó chỉ là đỉnh điểm của một tham vọng được tính toán trong nhiều thập kỷ. Ngay từ năm 1951, khi còn là Bộ trưởng Ngoại giao, Chu Ân Lai đã tuyên bố đòi hỏi chủ quyền với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, dù vào thời điểm đó, Trung Quốc không hề có chỗ đứng ở Biển Đông.

Mấy chục năm qua, Trung Quốc không ngừng thực hiện chiến lược “gặm nhấm từng bước" bằng nhiều biện pháp. Đối với các nước trong khu vực tranh chấp, Trung Quốc nhiều lần sử dụng vũ lực để mở rộng sự hiện diện trên các đảo, quần đảo ở Biển Đông (giao tranh năm 1974, 1988 với Việt Nam, và 1996, 1997 với Philippines). Kết hợp với việc sử dụng vũ lực, Trung Quốc vận dụng bộ máy tuyên truyền và ngoại giao về chủ quyền và thái độ cứng rắn của nước này đối với vấn đề biển Đông ở trong và ngoài nước. Cụ thể trong một vài năm trở lại đây, với Việt Nam là nước có lợi ích trực tiếp trong vấn đề này, Trung Quốc thực hiện chiến lược giao kiểu “chia rẽ”. Để ngăn cản quá trình quốc tế hóa biển Đông, một mặt Trung Quốc tìm cách chia rẽ Việt Nam với các nước khác như thỏa hiệp với Mỹ và tạo sức ép lên Việt Nam; chia rẽ Việt Nam với các quốc gia Đông Nam Á khác như Malaysia, Philippines. Nhờ đó, từ chỗ không hề đứng chân trên Biển Đông, Trung Quốc đã chiếm đóng toàn bộ quần đảo Hoàng Sa và 7 đảo (bãi đá ngầm) trên quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền lâu đời của Việt Nam và Philippines.

Đừng trông chờ lòng tốt của kẻ khác

越南當自強

Lịch sử đã cho thấy, trông đợi vào lòng tốt của kẻ mạnh là một sai lầm, với chủ quyền quốc gia thì đó là sai lầm lớn nhất. Vì vậy không còn cách nào khác là phải tự cứu mình, làm cho mình mạnh lên và lôi kéo bạn bè, đồng minh, những người có cùng lợi ích và mối quan tâm đứng về phía mình. Không còn cách nào khác là đoàn kết lòng dân, làm cho dân tin. Và như vậy, lãnh đạo phải gương mẫu, bản lĩnh, có tâm có tài, và quan trọng, phải vì dân, vì lợi ích quốc gia trên hết. Nhân dân phải được tôn trọng và bảo vệ, được lắng nghe về mọi diễn biến lớn của đất nước, được như thế, dân sẽ không ngại hy sinh để bảo vệ đất nước.

Trong cuộc chiến pháp lý, chính phủ cần công khai khuyến khích hỗ trợ các tổ chức nghiên cứu, trường đại học, tăng cường đội ngũ các nhà khoa học nghiên cứu về biển Đông trong nhiều lĩnh vực khác nhau để từ đó xây dựng cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các tranh chấp có thể xảy ra.

Với bạn bè đồng minh? ASEAN do có những khác biệt về tôn giáo, văn hóa cũng như thể chế chính trị nên những mối quan tâm không hẳn đã quy về một mối. Vì thế, sợi dây khả dĩ nhất có thể kết nối được các nước ASEAN chính là xây dựng một khu vực an ninh, chia sẻ những lợi ích chung thông qua hợp tác song và đa phương. Đặc biệt, với ý đồ độc chiếm biển Đông của Trung Quốc thể hiện qua đường “lưỡi bò”, thì lợi ích hợp pháp của nhiều nước ASEAN (Việt Nam, Philippines, Malaysia, hay Indonexia) đều bị đe dọa.. Không chỉ ASEAN, các nước khác như Mỹ, Nhật, Hàn Quốc, Úc … cũng đều có quyền lợi trực tiếp về mặt lưu thông hàng hải, nên việc chia sẻ những lợi ích cũng là một động lực để họ đứng về phía ASEAN. Đó chính là một trong những đầu mối quan trọng để hình thành sự đoàn kết chống lại ý đồ độc chiếm của Trung Quốc.

Không có sự thông cảm và hiểu biết chung nào tự nhiên đến, và cũng không có thành quả nào tự trên trời rơi xuống. Tất cả đều là kết quả của một quá trình nỗ lực bền bỉ lâu dài. Nên việc Việt Nam cần chủ động có một chiến lược ngoại giao nhân dân, song song cùng việc tăng cường ngoại giao chính phủ, trước một thực tế ASEAN đang bị chia rẽ, là điều vô cùng cần thiết. Nói cách khác, chính phủ và mỗi người dân Việt Nam cần phải là người chủ động trong việc đoàn kết ASEAN để bảo vệ lợi ích của chính mình cũng như hòa bình và an ninh chung trong khu vực.

Thiên Di