Trọng nam khinh nữ! Người đàn ông Đài Loan vô trách nhiệm 重男輕女!不認帳的台灣男人

法律諮詢

Tư vấn pháp luật

重男輕女!不認帳的台灣男人

Trọng nam khinh nữ! Người đàn ông Đài Loan vô trách nhiệm

文:勝達法律事務所

譯:楊玉鶯

Bài: Văn phòng luật sư Thắng Đạt (ShengDa)

Dịch: Dương Ngọc Oanh

Hỏi:

Chị Mai là người Việt Nam, làm việc ở một công ty do Đài Loan đầu tư tại thành phố Hồ Chí Minh, chị kết hôn với đồng nghiệp người Đài Loan – anh Minh – và có thai với anh ấy. Khi đó, Bộ Ngoại giao Đài Loan quản lý quan hệ hôn nhân mang yếu tố nước ngoài rất nghiêm ngặt, sau khi thông qua thủ tục phỏng vấn, hai người đã về lại Đài Loan và tổ chức lễ cưới, nửa năm sau, chị Mai phải quay lại Việt Nam để làm các giấy tờ hoàn tất thủ tục cư trú vĩnh viễn tại Đài Loan.

Lúc ở Đài Loan, khi siêu âm khám thai, gia đình chồng đã được bết giới tính của cháu bé, mẹ chồng chị rất bất mãn vì cháu bé trong bụng chị là con gái, anh Minh cũng hơi thất vọng nhưng đã an ủi chị rằng, không sao cả, đứa sau biết đâu lại là con trai. Mẹ chồng chị muốn chị về Việt Nam sinh nở, chị cũng ngoan ngoãn vâng lời, đơn thân một mình về lại Việt Nam chờ ngày sinh. Từ khi mang thai tới lúc lâm bồn, anh Minh đều ở Đài Loan, anh bảo với chị rằng do mẹ anh không vui, mong chị có thể thông cảm.

Con gái chị được một tuổi mà vẫn chưa một lần gặp mặt cha, chị Mai cảm thấy sự việc không ổn, nên đã liên lạc với anh Minh hy vọng được quay về Đài Loan. Anh Minh hỏi chị, nếu đồng ý sinh thêm cháu nữa thì may ra có cơ hội quay lại Đài Loan đoàn tụ. Vì thời hạn cư trú trước đây của chị đã quá hạn, chị dùng visa du lịch để nhập cảnh Đài Loan, ba tháng sau chị lại mang thai, sau khi visa hết hạn chị lại quay về Việt Nam, khám thai siêu âm thì được biết đứa bé trong bụng chị cũng là con gái.

Anh Minh rất thất vọng, lần này anh cắt đứt mọi liên lạc với chị, cả điện thoại của chị anh cũng không nghe. Chị Mai nhờ bạn bè ở Đài Loan hỏi thăm, nhưng chỉ nhận được câu trả lời bạc bẽo, bảo rằng quan hệ hôn nhân của hai người chưa từng được đăng ký, hai cháu đều được sinh ở Việt Nam, không thừa nhận quan hệ huyết thống này.

Và như thế, chị Mai và hai con đã bị bỏ rơi, vì bị ép vào bước đường cùng, chị từng nghĩ tới việc tự vẫn nhưng lại thương hai cháu đều vô tội. Chị hy vọng hai con mình được nhận lại tổ tiên, nhưng không biết phải làm thế nào.

Đáp:

Gặp phải những người chồng, người cha có quan niệm trọng nam khinh nữ, vô trách nhiệm như anh Minh, thật sự khiến người ta phải đau lòng vì hoàn cảnh của chị Mai. Trước 23/05/2008, điều kiện quan trọng về quan hệ hôn nhân ở Đài Loan là “hôn nhân theo nghi thức”, tức phải có nghi thức công khai thì mới được xem là đã kết hôn. Nhưng từ sau 23/05/2008 thì là “hôn nhân qua đăng ký”, theo quy định trong điều 982 của Luật Dân chính sửa đổi: “Kết hôn phải căn cứ theo giấy tờ đăng ký, có chữ ký chứng minh của hai nhân chứng trở lên, đồng thời phải do đôi bên đương sự đăng ký kết hôn tại cơ quan hộ chính”. Và theo quy định của điều 46 trong “Quy định pháp luật đối với quan hệ hôn nhân mang yếu tố nước ngoài” thì: “Việc thành lập quan hệ hôn nhân được dựa trên quy định luật pháp tại quốc gia của từng đương sự, nhưng phương thức hết hôn chỉ cần căn cứ theo quy định pháp luật hoặc căn cứ theo quy định tại nơi cử hành hôn lễ của một trong hai bên, thì quan hệ hôn nhân đó được xem là đã có hiệu lực.”

Trong vụ việc này, nếu chị mai kết hôn trước 23/05/2008, vì anh chị có cử hành nghi thức kết hôn tại Đài Loan, nên dù có đăng ký kết hôn hay không, thì quan hệ hôn nhân giữa chị và anh Minh cũng đã có hiệu lực, dù anh Minh không đồng ý cùng chị Mai đến cơ quan hộ chính để đăng ký kết hôn, chị Mai vẫn có thể đích thân hoặc ủy thác người thứ ba mang ảnh kết hôn, các giấy tờ chứng nhận như giấy đăng ký kết hôn v.v… đến cơ quan hộ chính để chứng nhận quan hệ hôn nhân này, để cơ quan hộ chính trực tiếp thông báo với anh Minh, yêu cầu anh Minh trả lời trong thời gian quy định, nếu quá hạn vẫn không đưa ra ý kiến của mình, cơ quan hộ chính có thể xem như hai người đã đăng ký kết hôn.

Nhưng nếu chị Mai và anh Minh kết hôn sau 23/05/2008, chỉ cần quan hệ hôn nhân của hai người đã được pháp luật Việt Nam công nhận, dù chưa đăng ký kết hôn tại Đài Loan, nhưng theo quy định của điều 46 trong “Quy định pháp luật đối với quan hệ hôn nhân mang yếu tố nước ngoài”, thì quan hệ hôn nhân tại Đài Loan của hai người vẫn có hiệu lực.

Nếu quan hệ hôn nhân này có hiệu lực, thì theo quy định của điều 1063 trong Luật Dân sự: “Người vợ mang thai trong thời kỳ quan hệ hôn nhân vẫn đang tồn tại, thì có thể phán đoán con cái được sinh trong giai đoạn này là con cái trong hôn thú.” Tức, con cái mà chị Mai sinh trong thời kỳ quan hệ hôn nhân đang được duy trì, đều được quy là con cái trong hôn thú của anh Minh và chị Mai, anh Minh có muốn phủ nhận cũng không được. Chị Mai muốn để con mình được nhận lại tổ tiên, có thể dùng hình ảnh của tiệc cưới, giấy tờ đăng ký kết hôn tại Việt Nam, mang đến chứng nhận tại toàn án địa phương nơi anh Minh cư ngụ, đưa ra minh chứng về quan hệ hôn nhân của hai người, đồng thời yêu cầu anh Minh phụ trách chi phí sinh hoạt trước mắt và trước đây của hai đứa con chưa thành niên. Đợi khi tòa án phán quyết chị Mai thắng kiện, chị có thể dùng bản chính của Giấy phán quyết và Chứng nhận xác định phán quyết của tòa án, đến cơ quan hộ chính để làm thủ tục đăng ký kết hôn, đăng ký hộ tịch cho con cái, đồng thời có thể yêu cầu anh Minh cung cấp chi phí nuôi con theo phán quyết của tòa án, nếu anh Minh không chịu trách nhiệm, chị Mai có thể làm đơn khiếu nại, nhờ tòa án cưỡng chế chấp hành, bao gồm bất động sản, tài khoản ngân hàng, lương bổng v.v… được đăng ký dưới tên của anh Minh.

Dù quan hệ hôn nhân của chị Mai và anh Minh không được đăng ký theo pháp luật ở cả Việt nam và Đài Loan, chị Mai cũng không phải lo lắng. Chị có thể dùng ảnh cưới, những tin nhắn hoặc những cuộc điện thoại mà anh Minh từng gửi hoặc gọi cho chị, hoặc những giấy tờ thủ tục ở bệnh viện từng do anh Minh ký tên, để chứng mình rằng anh là cha của hai cháu, nhờ tòa án yêu cầu anh Minh thi hành trách nhiệm nuôi dưỡng hai con. Trong quá trình tố tụng, toàn án có thể sẽ yêu cầu anh Minh tiến hành việc xét nghiệm máu để giám định quan hệ huyết thống, nếu anh Minh cự tuyệt, tòa án có thể căn cứ theo những giấy tờ mà chị Mai cung cấp để đưa ra những phán quyết có lợi đối với chị Mai, vậy thì theo quy định của luật pháp, anh Minh vẫn phải chịu trách nhiệm và thi hành nghĩa vụ nuôi dưỡng con cái.

 

Q:越南籍的阿梅在胡志明市一家台商公司上班,與台灣同事阿明結婚、懷孕。當時,台灣外交部對涉外婚姻管制嚴格,結婚面談過後,兩人回到台灣舉辦婚禮,半年後,阿梅必須再度返回越南辦理台灣的永久居留證。

在台灣時,透過超音波得知孩子的性別,婆婆對於阿梅懷的是女孩頗有微詞,阿明雖然有點失望,卻也安慰她,沒關係,再生一個可能是男孩。婆婆要阿梅回越南生孩子,阿梅乖乖聽命,一個人回到越南生產。從懷孕到臨盆,阿明都留在台灣工作,表示因為婆婆不高興,希望她能體諒。

女兒滿一歲了,還沒見過爸爸,阿梅覺得不妥,跟阿明連絡,希望回台灣。阿明問阿梅,是否願意再生一個孩子,也許就有機會回台灣團聚。因為之前居留的身分過期,阿梅以觀光身份入境台灣,三個月內再度懷孕,時間一到返回越南,超音波一照,又是個女孩。

阿明很失望,這回做得更絕,不但音訊全無,連阿梅的電話也不接。阿梅托台灣的朋友去問,卻得到無情的答案,表示婚姻根本沒有登記,兩個孩子都在越南出生,拒絕承認親子關係。

就這樣,阿梅被拋棄,帶著兩個女兒,走頭無路想自殺,又捨不下無辜的孩子。她希望能讓女兒認祖歸宗,卻不知道該怎麼辦。

A:

遇到像阿明這種重男輕女又不負責任的丈夫及父親,著實令人為阿梅的際遇心酸。民國97年5月23日以前,在台灣關於結婚的形式要件是採「儀式婚」,也就是一定要有公開儀式才算結婚。但97年5月23日以後改採「登記婚」,適用新修正民法第982條規定:「結婚應以書面為之,有二人以上證人之簽名,並應由雙方當事人向戶政機關為結婚之登記」。又,「涉外民事法律適用法」第46條規定「婚姻之成立,依各該當事人之本國法,但結婚之方式依當事人一方之本國法或依舉行地法者亦為有效」。

案例中的阿梅,如果是在97年5月23日以前結婚,因為在台灣舉行過結婚儀式,不管有沒有登記,婚姻都已經有效成立,縱使阿明不願協同阿梅去戶政機關作結婚登記,阿梅還是可以親自或委託第三人帶著結婚照、結婚證書等文件供戶政機關參酌,由戶政機關直接通知阿明,請阿明在一定期限內表示意見,期限屆至,阿明如果沒有表示意見,戶政機關還是可以逕為結婚登記。

如果阿梅和阿明是在97年5月23日以後才結婚,只要是越南法律所認可的婚姻,縱使未在台灣登記結婚,依「涉外民事法律適用法」第46條規定,兩人的婚姻在台灣仍然有效。

若婚姻有效,依民法第1063條之規定:「妻之受胎,係在婚姻關係存續中者,推定其所生子女為婚生子女。」也就是說,阿梅在婚姻關係存續期間所生的孩子,都推定是阿明和阿梅的婚生子女,阿明想賴也沒有用。阿梅想讓孩子認祖歸宗,可以檢具婚禮的照片、在越南辦理結婚的文件,向阿明戶籍所在地法院,提出確認婚姻關係存在之訴,並請求阿明負擔兩名未成年女兒過去及現在所有生活費用。等法院判決阿梅勝訴,阿梅可以拿法院判決正本及判決確定證明書,到戶政機關辦理結婚登記、子女戶籍登記,並可以請求阿明依判決負擔孩子費用,如果阿明不負擔,阿梅可以訴請法院強制執行阿明的財產,包括阿明名下的不動產、存款、薪資等。

即使阿梅和阿明的婚姻在台灣、越南都未合法成立,阿梅也別擔心。阿梅可以檢具結婚照、阿明曾經給阿梅的簡訊或電話、有阿明簽名的醫院文件,證明阿明是兩個孩子的爸爸,向法院訴請要求阿明認領兩個孩子。訴訟上,法院可以要求阿明進行血緣鑑定,阿明如果拒絕,法院可以依阿梅提供之資料作有利於阿梅之判決,阿明依法還是要負起扶養孩子的義務。