Tận mắt chứng kiến cuộc sống của ngư công 直擊漁工生活 海上大不易

20130125探訪蘇澳菲律賓漁工 1 (1)Tại Đài Loan có khoảng 6.600 ngư công là người nước ngoài, một thuyền đánh cá thường từ 10 đến 20 ngư công nước ngoài, chủ yếu đến từ Việt Nam, Philippin, Inđô. Khi được hỏi cuộc sống trên biển có khó khăn không, các ngư công nhìn xung quanh trước tiên, chắc chắn không có người mới trả lời miễn cưỡng: “Cũng tạm…”. Ngư công trẻ người Inđô thì thẳng thắn trả lời: “Tiền lương quá ít!” Một ngư công có thâm niên với nghề đứng hút thuốc bên cạnh thêm một câu: “Tiền lương ít thật đấy, như vậy còn có thể gì được…”
Tiền lương của ngư công từ 150 đến 300 đô Mỹ, từ năm 2013, một số công ty thuyền biển tăng lương cho ngư công Inđô lên 400 đô Mỹ, ngư công Philippin 500 đô Mỹ. Hợp đồng của ngư công trong vòng 3 năm, trong thời gian làm việc không được phép về nước. Nếu đã từng làm việc tại Đài Loan, biết tiếng Trung – Đài có thể giao tiếp với thuyền trưởng, đôi khi được nhận thêm vài nghìn Đài tiền thưởng.
Làm việc liên tục 9 tiếng không nghỉ
Thời gian làm việc trên thuyền đánh cá xa bờ mỗi ngày từ 12 đến 18 tiếng, công việc chính là vận chuyển mồi, rã đông và thả mồi, kéo lưới, chế biến cá và xử lý nội tạng cá, làm đông cá trong kho lạnh với nhiệt độ âm 20 – 30 độ, thậm chí đến 40 -50 độ, làm sạch boong tàu. Khi thuyền vận chuyển đến tiếp tế thực phẩm và dỡ chuyển cá, khối lượng công việc càng lớn hơn, ngư công phải làm việc liên tục trong 8 đến 9 giờ đồng hồ.Môi trường làm việc khiến ngư công dễ bị chấn thương, vết thương thường do dao cứa hay dây câu làm trầy xước, cần được khâu và điều trị. Sau khi bị thương, cộng thêm ngủ không đủ giấc, khiến vết thương càng trở nên trầm trọng hơn, đồng thời gây ra suy giảm sự tập trung, khi làm việc rất dễ bị thương. Vết thương tiếp xúc trực tiếp với nước biển và mặt trời, gây cản trở sự phục hồi. Ngư công không vì bị thương mà được phép nghỉ ngơi.
Ngư công không được ăn no đành tự bỏ tiền mua mì tôm
Giờ làm – ăn – ngủ – nghỉ của ngư công nước ngoài điều chỉnh theo thời gian làm việc, mỗi ngày chỉ được ngủ nhiều nhất 6 tiếng, thậm chí không đủ 4 tiếng. Ngoài ra, nước sinh hoạt trên thuyền có hạn, ngư công chỉ có thể sử dụng nước biển để tắm rửa vệ sinh.
Một tàu đánh cá nhỏ dài 20 mét, diện tích phòng ngủ của ngư công chỉ tầm 3,3 m2 (一坪), trần cao 1,8 m; giường hai tầng trên dưới làm bằng gỗ hoặc khung sắt. Phòng ngủ chật hẹp nhưng phải chứa đến 12 ngư công nước ngoài và hành lý, tất cả mọi người chỉ có thể vai đè vai nằm ngủ, độ dài giường cũng không đủ, khi ngủ chân phải thò ra ngoài hoặc gập người. Phòng ngủ cũng không có cửa sổ thông gió, chỉ có một cửa ra vào, gió to sóng lớn sẽ bị nước biển tạt vào. Ngư công cũng không có phòng tắm chuyên dụng, mười mấy ngư công đều dùng chung một nhà vệ sinh.
Thức ăn chính trên thuyền chỉ là cơm trắng và mì tôm, đồ loại thịt cá không thể bán như thịt thừa, nội tạng, vây đuôi, hay làm mồi như mực hay cá mòi, chính là thức ăn của ngư công. Thời cơ hiếm hoi khi tàu cập bến tiếp tế hay có tàu tiếp tế đến, họ mới có rau quả và đồ hộp để đổi bữa. Ngư công thường xuyên không được ăn no, đành phải tự bỏ tiền mua mì tôm, chi phí cho những bữa ăn bổ sung và rượu trở thành món khoản kinh phí đáng kể đối với ngư công.
Không được lòng thuyền trưởng, lập tức hồi hương
Một chuyến ra biển của ngư công mất vài tháng, cuộc sống nhàm chán, áp lực công lớn, nếu thuyển trưởng phân bố công việc không công bằng, thái độ không tốt, cộng thêm giao tiếp không thông, dễ dàng xảy ra xung đột giữa đôi bên. Thuyền viên người Philippin Ryan nói, mặc dù ký hợp đồng 2 năm, nhưng biểu hiện không tốt, không thích ứng được, hoặc không được lòng thuyền trưởng, liền bị trả về nước, không nhận được tiền lương, cho nên dù có khổ cực cay đắng thế nào cũng phải cố gắng chịu đựng.
Một thuyền viên người Việt Nam khác bày tỏ: “vừa mới cưới vợ được 2 tháng, đành phải chia tay nhau ra khơi kiếm tiền, đặt gánh nặng kinh tế gia đình trên vai”. Một thuyền viên người Việt khác nói trong vô vọng: “ở nhà vẫn còn 3 đứa con đang tuổi ăn học, kiếm một chút tiền này, kinh tế gia đình rất khó chuyển từ thiếu sang đủ”.

在台灣約有6,600名外籍漁工,一艘漁船上通常有10至20位漁工,大部分來自越南、菲律賓、印尼。當提及海上生活是否過得去,漁工總是先張望四周,確定周遭沒其他人後,才勉強說:「還好啦…。」而年輕的印尼漁工直接說「錢超少的啦!」資深的漁工則邊抽菸邊說「薪水少是少啊,那又能怎樣…。」
漁工月薪從美金150至300元不等,2013年起,部分船公司調升漁工薪資,印籍美金400元、菲籍美金500元。漁工合約一般一到三年,期間無法返國。若曾待過臺灣,略通國、臺語,能與船長溝通,有時可多拿幾千元台幣獎金。
連續工作9小時不休息
遠洋漁船每日工時從十二小時至十八小時不等,主要工作內容有搬運魚餌、解凍並下餌、下鉤(網)、起鉤(網)、殺魚處理內臟、在零下二、三十度甚至四、五十度的冷凍庫凍魚、清洗甲板等。轉載船前來補給物資及卸裝魚貨時,工作量更大,漁工必須要連續工作八至九小時。作業環境使漁工受傷機會多,常有刀傷以及被魚線劃傷,需要縫線處理。一旦受傷,加上普遍睡眠不足,加速傷口惡化,同時造成注意力下降,工作時就更容易受傷。傷口暴露在海水及陽光下,復原不易,也不會因為受傷得以休息。
吃不飽自己出錢買泡麵
外籍漁工的睡眠、三餐時間是依照作業時間調整,每天最多只能睡6小時,甚至常睡不到四小時。另外船上水資源有限,一般漁工洗澡只能用海水。
一艘20公尺長的小型漁船上,漁工寢室約有一坪大、高1.8公尺,上下鋪是用木板或鋼架做的。狹小的寢室要容納12個外籍漁工及行李,大伙只能肩並肩睡覺,而通鋪長度也不夠,睡覺時腳會懸空在外、或必須屈身。寢室沒有通風窗戶,只有一個外出門,風浪一大海水就會潑進來。漁工沒有淋浴間可用,十幾個漁工共用一個蹲式馬桶。
船上主食為白飯或泡麵,魚身不賣錢的部分,如邊肉、內臟、尾鰭等,以及作餌料的花枝或沙丁魚,就是漁工的食物。難得在海上或岸上進行補給時,才有冷凍蔬菜或罐頭可吃。漁工常有吃不飽情況,只得另外買泡麵,變相的額外伙食費以及菸酒支出,成了一筆可觀費用。
不得船長意就被遣返
漁工一出海就是幾個月,生活枯燥,工作壓力大,如果船長勞逸分配不均、態度不佳,加上溝通不良,雙方容易發生衝突。菲律賓籍船員Ryan說,雖然簽約兩年,但表現不好、適應不良、或是不得船長的意,就會被遣返,拿不到薪水,所以不管多苦都要撐下去。
一名越南籍船員表示,和女友結婚才兩個月,就要離別出海掙錢,負擔家庭經濟;另名越南船員無奈地說,家裡還有三個小孩要養,賺這點錢,經濟狀況很難轉負為正。

Bài: Trần Dương Trăn (Tác giả từng kiêm nhiệm phiên dịch viên tình nguyện Biển Ấn Độ Dương, hỗ trợ điều tra tình hình ngư nghiệp)
Ảnh và lời dẫn: Lý Nhạc Hiên, Trần Dương Trăn    Dịch: Dĩnh Quân

文/陳羚榛(筆者曾任印度洋海上翻譯志工,協助調查漁業概況)      圖/李岳軒,陳羚榛      翻譯/穎君