Chị tôi làm khán hộ công 當看護工的大姐

Đã lâu lắm rồi tôi và chị Hai không gặp nhau, kể từ ngày chị thầm lặng rời bỏ gia đình đi xuất khẩu lao động sang Đài Loan. Gần một năm trời chị không có tin tức gì về cho gia đình, khiến mọi người ai cũng lo lắng. Gọi chị là chị Hai vì tôi không có chị gái, chị là hàng xóm của tôi nên tôi gọi chị Hai cho thân mật. Chị Hai lấy chồng từ năm 22 tuổi, sinh được hai đứa con trai kháu khỉnh. Tuy nhiên, gia đình chị đổ vỡ khi chồng chị phũ phàng bỏ đi theo một người đàn bà khác. Chị phải một mình nuôi nấng hai đứa con thơ dại trong khi chồng chị không chu cấp tiền hàng tháng theo quy định của pháp luật. Thời gian cùng những lo toan cơm áo đã tàn phá tuổi trẻ của người đàn bà tội nghiệp đó. Để có tiền lo cho gia đình, chị bươn chải mọi công việc, không màng nặng nhẹ hay khuya sớm, miễn là có tiền lo cho mẹ già cùng hai con đầy đủ. Thế mới thấy nể phục sự chung thủy, kiên cường mạnh mẽ của người phụ nữ Việt Nam như thế nào. Tuy nhiên, phải làm việc nhiều mà đồng lương lại không tương xứng ở Việt Nam đã khiến chị chán nản. Thời gian cùng sức khỏe cũng không cho phép chị làm thêm nhiều công việc nữa.
Có người gợi ý cho chị rằng chị trông cũng còn xinh gái lắm, hay là sang Nam Vang (thủ đô Phnom Penh, Campuchia) đi khách, thu nhập vô cùng cao mà lại nhẹ nhàng, chị đã có con rồi, còn sợ mất gì đâu? Thế nhưng, là người phụ nữ Việt Nam truyền thống vốn tôn trọng danh dự và phẩm giá , “nghèo cho sạch rách cho thơm”, chị không chấp nhận lời đề nghị đó. Chị không muốn con mình có một người mẹ là gái làng chơi. Thật sỉ nhục cho chị và các con. Và rồi, chị quyết định tìm đường sang Đài Loan. Thông qua người môi giới, chị quyết định chọn hòn đảo này là miền đất hứa nhằm thoát cảnh nghèo khó ở quê nhà. Rồi từ đó, không ai còn biết tin tức gì từ chị Hai nữa.
Năm nay, tôi có dịp sang Đài Bắc trong sáu tháng. Biết được tin này, gia đình chị gửi gắm tôi nếu có dịp gặp chị thì hãy báo về cho họ biết tin tức, rằng gia đình rất lo lắng và hai đứa nhỏ rất mong mẹ trở về nhà với chúng. Tôi hứa cho có lệ vì tôi biết rằng cơ hội gặp chị, dù là tình cờ, trong số hàng triệu con người trên hòn đảo Đài Loan thật mong manh. Thế mà, trái đất này vốn tròn.
Trong một lần đi tham quan Cơ Long, vào một buổi chiều nắng đẹp, tôi quyết định một mình đi dạo mát ven bờ biển, sẵn dịp ngắm ánh tà dương nơi đất khách quê người. Ở Cơ Long, tôi không khó để gặp người Việt Nam, rất nhiều trong số họ làm khán hộ công, làm phục vụ quán ăn hay công nhân nhà máy, một số khác lấy chồng người Đài Loan rồi nhập quốc tịch luôn bên này. Tôi nghĩ biết đâu chị Hai cũng ở đây thì sao? Tôi mang chút hy vọng đấy theo từng bước chân đi trên bãi biển. Biển hôm nay rất thanh bình trong ánh nắng chiều. Tôi bỗng bắt gặp một người phụ nữ dáng người nhỏ nhắn, mái tóc đen xõa dài nhưng khô khan, đôi mắt đượm buồn với những nếp nhăn của tuổi tác không thể nào che giấu. Người phụ nữ này đang đẩy xe lăn cho một cụ bà đi dọc theo chiều dài bãi biển. Cụ bà trông có vẻ đãng trí, luôn miệng lẩm bẩm một thứ ngôn ngữ gì đó xa lạ với tôi, ánh mắt cụ nhìn đăm đăm ra phía biển, như muốn ôm trọn cả trùng dương vào lòng mình. Như có linh cảm, tôi vô thức chạy về phía người phụ nữ đó vì muốn nhìn rõ gương mặt.
“ Chị Hai” , tôi mừng rỡ kêu lên.
“ Trời ơi! Nhóc, là em sao ? Em qua đây hồi nào vậy? Trời ơi, ở nơi xa lạ như vầy mà có thể gặp lại em sao? Chị có nằm mơ không?” , chị Hai thốt lên như không tin vào mắt mình.
“Dạ, là em đây. Em cũng không tin được là có dịp gặp chị bên này. Trái đất thật nhỏ phải không chị ?”, tôi không giấu được niềm vui sướng.

Và rồi, tôi thay chị đẩy chiếc xe lăn cho bà cụ, vừa đi vừa tâm sự cùng chị như gặp lại cố nhân.
“Sao chị qua đây mà không nói với gia đình, họ lo lắng cho chị lắm. Chị lại không viết thư hay điện thoại về nhà nữa. Chị làm việc gì bên này ?”, tôi thắc mắc.
Chị tâm sự với tôi thật lâu, như muốn trút hết nỗi niềm trong lòng mình. Chị sang Đài Loan làm nghề khán hộ công cho một gia đình người bản địa khá giả. Lương tháng chị nhận được hơn 13 triệu đồng Việt Nam. Công việc khán hộ công rất vất vả và hầu như chị không có ngày nghỉ ngơi, không tương xứng với đồng lương chị nhận. Thứ Hai cũng như Chủ nhật đều như nhau, chị phải lo chu toàn công việc nhà và chăm sóc cho bà cụ đã hơn 80 tuổi. Cụ bà đãng trí và lẩm cẩm, chị phải chăm sóc cụ như một đứa trẻ vậy. Cụ hay cười nói một mình nhưng muốn chị ngồi bên cạnh để nghe, dù chị thấy khá nhàm chán. Cụ lại không tự đi vệ sinh được, nhiều lúc đi ngoài ra bất cứ nơi nào trong nhà, làm chị phải vất vả vệ sinh cho cả cụ cùng lau chùi ngôi nhà sang trọng đó. Có thể nói, chị theo sát cụ bà hàng ngày, trong từng miếng ăn, giấc ngủ, đi đứng và cả lúc tắm rửa, thay quần áo hay đi vệ sinh … Mỗi ngày, chị phải đẩy xe lăn cho cụ dạo ngắm biển. Cụ bà yêu biển như yêu chính cuộc sống của mình. Cả cuộc đời cụ gắn liền với biển, nó mang lại cho cụ nhiều thứ quý giá, nhưng cũng tàn nhẫn cướp đi những gì quý giá nhất của cụ. Người chồng mà cụ thương yêu nhất đã mãi mãi về với lòng biển cả trong một lần ra khơi gặp bão lớn. Chị nói rằng cách tốt nhất giúp cụ vui là cùng cụ ra ngắm biển, vì nơi đó có cuộc sống, có tình yêu và cả người bạn đời của cụ đã vĩnh viễn nằm lại ở đó. Chị cho tôi biết rằng sức khỏe của cụ ngày một kém và chắc không bao lâu nữa, cụ cũng sẽ về với biển cả như tâm nguyện trong lá di chúc. Cũng may mắn cho chị, gia đình thuê chị luôn sẵn sàng hỗ trợ để chị làm thủ tục đổi chủ mới ngay khi bà cụ qua đời. Tôi trách chị không thèm tin tức gì cho gia đình ở Việt Nam, không biết chị còn nhớ nhà và nhớ con nữa không? Chị im lặng một hồi lâu, nước mắt lăn dài trên đôi gò má hốc hác. Chị nói rằng chính công việc không một lúc nghỉ ngơi đã kéo chị rời xa nỗi nhớ quê hương. Chị cố gắng làm thật nhiều thật nhiều để mong dành dụm một số tiền lớn, mai này mang về Việt Nam làm vốn lập nghiệp. Gia đình mà chị làm thuê cho chị mỗi ngày ba bữa cơm nữa, nên chị tiết kiệm khá nhiều tiền, còn những nhu cầu bản thân như mua sắm quần áo, mỹ phẩm chị dường như không nhớ tới nữa, chị xót tiền lắm.
“ Sao chị không ra ngân hàng gửi tiền về nhà ?”, tôi hỏi.
“ Chị không biết phải làm thủ tục chuyển tiền như thế nào nữa, lại không rành tiếng của họ. Vả lại, em thấy đó, chị chưa một ngày nào mà không làm việc từ sáng tới chiều. Chị định cứ dành dụm đấy, một thời gian sau sẽ đem về Việt Nam luôn.” Chị nghẹn ngào.
Với chị bây giờ, niềm mong mỏi lớn nhất là chính quyền sở tại hãy quan tâm đến người khán hộ công, tăng lương lên cho họ, giảm áp lực công việc và quy định ngày nghỉ ngơi. Chị cũng thèm muốn một ngày Chủ nhật dạo phố và mua sắm một vài thứ gì đó đem về Việt Nam. Nhưng với chị, ngày đó hãy còn xa.
Giọt nắng cuối cùng cũng đã tắt trên bờ biển Cơ Long, nhường chỗ cho một màu đen cô tịch. Xa xa, ánh đèn từ những con thuyền làm sáng cả một góc trời, phía sau lưng chúng tôi, làng chài đã lên đèn tự bao giờ, gió biển thổi từng cơn lạnh buốt. Chị đẩy bà cụ về nhà, ánh mắt nhìn xa xa như hoài vọng về Tổ quốc. Giá như gia đình chị vẫn hạnh phúc, giá như thu nhập của người lao động ở nước nhà đừng quá thấp như hiện nay, giá như chị hãy còn trẻ để có thể đi xa hơn, lâu hơn và làm việc nhiều hơn. Chị không thể sống tha hương ở Đài Loan mãi, rồi chị phải quay về để hai con chị có hơi ấm của mẹ, để mẹ già chị bớt cô quạnh và để chị gây dựng kinh tế cho gia đình.
Tôi tạm biệt chị ra về mà trong lòng đắng nghét. Tôi thấu hiểu, đồng cảm và xót xa với cuộc sống vất vả thân phận nhỏ bé của những người di công Việt Nam trên hòn đảo này. Hẹn gặp lại chị một ngày không xa nhé chị Hai – người khán hộ công ở Đài Loan.
自從她默默地離家去台灣工作後,我跟大姐好久好久沒見面了。
我叫她是大姐是因為我沒有姊姊,而她是我的鄰居,所以這樣稱呼比較親暱。然而她離家快滿一年了,家裡都沒收到她的消息,讓她的家人很擔心。大姐22歲就結婚了,生了兩個可愛的男孩子,但自從她老公愛上別的女人而狠心拋棄她後,家庭就這樣破碎了,由於前夫並沒按照法律支付贍養費,因此她得獨自一人扶養兩個無辜的孩子,用寶貴的青春扛起家庭重擔。
為了賺錢養家她什麼工作都願意做,無論是粗工或多早多晚的班,只要有錢養她的母親和兩個小孩她都做,讓人不得不佩服越南女性的忠誠與堅強。然而她的付出與薪水不成比例,加上時間與體力有限,她不能再兼更多工作。
有人跟她說,她看起來還很年輕漂亮,乾脆去柬埔寨首都金邊的色情行業接客,收入高且輕鬆,反正她已經有小孩了,有什麼好怕的?但身為一個保守的越南女性,她重視名節和道德,窮也要窮的有志氣,她不接受這個建議,也不讓她小孩有個妓女媽媽,這種工作太侮辱她跟孩子了。
最後她決定找機會去台灣工作,透過一位仲介介紹,她決定選擇這個寶島做為脫離貧困的新希望,然而從她出發去台灣後,就再也沒人收到大姐的訊息了。
今年剛好我有機會去台北當交換學生六個月,知道這個消息後,大姐的家人拜託我如果有機會遇到她的話,請幫忙轉告她說他們很擔心她,兩個小孩也很想念她,希望她趕快回家。我答應的很勉強,因為我明白在台北這幾百萬人的城市裡,遇見她的機率根本是微乎其微;然而有時候緣份就是這麼神奇,我跟大姐真的在台灣相遇了。
某一天我去基隆玩,那天傍晚的夕陽非常漂亮,我一個人在海邊吹風,享受異鄉的美麗夕照。在基隆這地方其實不難遇到越南人,很多越南人來這裡當看護、餐廳服務生或工廠工人,有些人跟台灣人結婚後就會歸化台灣國籍,我心想,有沒有機會在這裡遇見大姊呢?我就這樣抱著一絲希望在海邊漫步著。
今天的海在夕陽下十分平靜,突然我看到了一個女人,她有嬌小的身材、乾燥的黑長髮,雙眼充滿哀傷,臉上有歲月留下的皺紋。這個女人推著一個坐輪椅的老婆婆在海邊散步,老婆婆看起來有老人痴呆,嘴巴一直發出怪聲,她的眼睛直直盯著海邊,好像要把那片海擁抱在懷裡似的。
「大姐!是大姐啊!」我開心的大喊。
「天呀!弟弟,是你嗎?你什麼時候來這裡的?天啊,在這麼遙遠的地方居然能遇見你,我是不是在作夢啊?」大姐也驚訝的大叫,不敢相信眼前的景象。
「對,真的是我!我也不敢相信在這邊能有機會遇見妳,世界真小啊!是不是?大姐。」我完全藏不住內心的雀躍。
我替大姐推著老婆婆的輪椅,邊走邊聊天。
「為什麼大姐來這裡後就不跟家人聯絡了?她們很擔心妳,可是妳都不寫信或打電話回家,在這裡妳做什麼工作?」我問。
她開始向我訴說這些日子以來的心事,好像想把心裡所有的苦水都倒出來。
她到台灣後在一個有錢的家庭當看護工,每個月領兩萬台幣薪水,看護工的工作很辛苦,幾乎沒有休假,薪水跟她的辛勞不成正比,無論星期一或星期日都一樣,她要包辦所有家事,外加照顧八十多歲的老婆婆,老婆婆已經老人痴呆很久了,多數時候不知道自己在做什麼,大姐要像照顧小孩一樣照顧她,老婆婆常一個人自言自語然後要她在旁邊聽著,而老婆婆也不能自己一個人上廁所,有時候會在家裡隨地大小便,害大姐要幫她洗澡、擦地。
她在台灣的日子幾乎每天24小時跟老婆婆綁在一起,無論吃飯、睡覺、走路、洗澡、換衣服或上廁所都是,每天她還要推輪椅陪老婆婆去海邊散步,老婆婆愛大海有如自己的生命,她這輩子都住在海邊,大海給了她許多寶貴的東西,也狠心奪走她最珍貴的東西,她的老公因為在海上遇到大颱風,最後永遠留在海裡。
大姐說讓老婆婆開心的方法就是陪她去看海,因為大海有她的生活、她的愛情、她的另一半。大姐也說老婆婆的身體越來越差,可能不久後也會如她早已寫好的遺書所願回歸大海,幸好雇主保證萬一老婆婆不幸過世,會幫大姐辦理轉換雇主的手續。
我問她怎麼不跟在越南的家人聯絡,難道她完全忘了家人和小孩嗎?她沉默了一會,兩行眼淚從消瘦的臉頰流下來,大姐慢慢說著,無止無盡的工作讓她忙到忘了想家,只能埋頭努力工作希望存一筆大錢,以後回越南就能做小生意。這裡雇主每天供應三餐,幫她節省很多錢,而一些女生喜愛的消費品像衣服或化妝品那些她早就不買了,捨不得把錢花在那上面。
「為什麼妳不去銀行匯錢回家?」我問道。
「我不知道怎麼辦匯款手續,我語言不通啊,而且你知道,我沒有一天從早到晚不工作,我打算把錢省下來,過一陣子再把錢全部帶回越南。」她哽咽說著。
她現在最大的願望就是希望台灣政府多關心看護工,讓她加薪、減輕工作負擔和擁有固定休假時間,她渴望未來能有個好好休假的週日,可以去逛街、買些東西寄回越南,但對她來說那天還好遠好遠。
基隆海邊的最後一絲夕照也熄滅了,留下一片悲凉黑暗,取而代之的是遠處漁船的點點漁火照亮海面,而我們身後漁村的家家戶戶也點起燈,海上吹來一陣冰冷的風,大姐開始慢慢推著老婆婆回家,但她的眼神仍留在遠方,好似在凝視那看不見的故鄉。
假如她的家庭還很圓滿……假如她在越南的薪水沒那麼低……假如她還年輕可以去更遠的地方賺更多錢……然而全都是假如了,現實是她不可能永遠留在台灣這個異鄉,總有一天要回去讓她的孩子感受媽媽的母愛,也讓她的母親不再感到寂寞,更要成為她全家的經濟支柱。
我跟她告別後心中湧出一股辛酸,在台灣的越南勞工竟是如此辛苦、弱勢,在了解像大姐這樣的海外移工處境後,我深深感到同情和悲傷,希望不久後的將來能再遇見妳 ── 我的大姐,一位在台灣的看護工。
文:阮玉元 (國立台灣大學交換學生)
Bài: Nguyễn Ngọc Nguyên (National Taiwan University)
譯:穎君  Dịch: Dĩnh Quân